Quan caphe film 213 dau tien tai Ha Noi

giai thoại của vua Quang Trung

Cập nhật: 15/08/2017
Lượt xem: 510


Nhắc lại một chút về giai thoại của vua Quang Trung.

 

Nguyễn Huệ sinh năm Quý Dậu (1753). Lúc nhỏ 3 anh em Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ sau khi thọ giáo một thầy đồ ở xã Bàng Châu (huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định) thì đến theo học thầy Trương Văn Hiến, một thầy đồ giỏi cả văn lẫn võ. Nhờ thân vóc mạnh mẽ, nên Nguyễn Huệ chuyên về môn sử dụng đao ngoài những môn võ khác. Môn đao phát huy được sức mạnh trời cho của Nguyễn Huệ.

Ngoài giỏi võ, Nguyễn Huệ còn rất giỏi binh pháp, ông đọc rất kỹ 2 bộ Binh thư của Tôn Tử và Trần Hưng Đạo. Sau khi cha mất, Nguyễn Nhạc phải trở về xã Kiên Mỹ (huyện Tuy Viễn) nối nghiệp cha, Nguyễn Lữ thì xuất gia tu hành. Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc được tôn làm Tây Sơn vương. Đất Tây Sơn (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) trở thành một tiểu quốc.

Nguyễn Huệ được giao trọng trách tổ chức và huấn luyện quân sự cho nghĩa binh. Phụ tá có các ông Trần Quang Diệu, Võ Đình Tú, Võ Văn Dũng. Hằng ngày lo luyện tập cho binh sĩ các môn: côn, quyền, đao, kiếm, bắn cung, cỡi ngựa, ghép thành đội ngũ. Ngoài ra, còn kết hợp với sản xuất làm ruộng, phá rừng, trồng hoa màu... Trong các môn võ đó thì Nguyễn Huệ tinh thông sử dụng đại đao hơn cả.

Trong cuốn sách Võ nhân Bình Định của Quách Tấn - Quách Giao có nhắc đến "Tam đại thần đao" của Nhà Tây Sơn là Ô Long Đao của Nguyễn Huệ, Huỳnh Long Đao của Trần Quang Diệu và Lôi Long Đao của Võ Văn Dũng.

Truyền rằng một hôm Nguyễn Huệ đi tuần nơi đèo An Khê (giáp huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa. Để tạo nên một không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin là trong dịp đi tuần này có hai con rắn mun to lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu xà.

Về truyền thuyết Xà thần dâng Ô long đao cho Nguyễn Huệ có một số tài liệu sử ghi lại rằng: Khi Nguyễn Huệ đưa một đoàn quân mới đến đoạn đèo An Khê, một buổi sáng còn mờ sương, trên đường hành quân, có hai con rắn cực kỳ to, nước da đen tuyền (sách gọi là ô long - rắn đen như mun, to lớn như rồng) chắn ngang đường, nghĩa quân ùn lại, rối hàng ngũ vì không dám tiến tới.

Nguyễn Huệ đến xem sự thể, ông bước xuống ngựa chắp tay khấn rắn: “Nếu Sơn thần, Xà thần phù trợ cho việc làm chính nghĩa của anh em nhà Tây Sơn, biết trước sự thành công thì xin Xà thần mở đường cho quân đi, còn sự nghiệp không thành, thì xin Xà thần hãy trị tội mình tôi, để nghĩa sĩ trở về với gia đình, đồng ruộng”.

Lời khấn của Nguyễn Huệ vừa xong, cả hai con rắn to kia quay đầu, tiến lên phía trước mở đường. Đi một quãng, một con lao vào bụi rậm, lúc trở ra miệng ngậm một Ô thanh long đao sáng như nước, vươn cổ trao cho Nguyễn Huệ. Ông kính cẩn nhận thanh Ô long đao và thề với Xà thần sẽ vì đại nghĩa cứu dân, vì ân huệ của Xà thần mà đi đến đích cuối cùng.

Thanh Ô long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ thì khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang mà chỉ có khí lạnh, đồng thời sắc bén vô cùng. Trọng lượng rất nặng, phải một người vác mới nổi. Nguyễn Huệ là một trong số những tướng lĩnh đầu tiên và ông đã cầm quân xông pha trận mạc như thế cho đến tận phút cuối của cuộc đời mình. Ông thường cầm Ô long đao xông lên phía trước trận tuyền.

Và thanh Ô long đao này cũng gắn liền với những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ non sông của vị anh hùng áo vải, cờ đào này. Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hàng trăm người. Đao loan đến đâu vũ khí và đầu người rụng đến đó. Đặc biệt, trong trận đánh này sự kết hợp giữa “cặp đao song sát” Ô long đao và Huỳnh long đao, cả 2 tả xung hữu đột đã khiến quân thù khiếp vía. Rồi đến năm Kỷ Dậu (1789) lại một lần nữa thanh Ô long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

- K.W - 
Nguồn Vtc.vn

Chưa có đánh giá.

Để lại ý kiến của bạn

cafe phim 3d 3

Hỗ trợ trực tuyến
Hotline:
02 462 953 223
1 /0 tư vấn viên